lundi 14 janvier 2013

Hiệp định hòa bình Paris và những “sự thật phũ phàng”

20130107143548_2
“Ngày 27-1-2013 sắp đến sẽ đánh dấu 40 năm ký kết Hiệp Định Paris 1973, một biến cố lịch sử vô cùng quan trọng đối với Việt Nam vì những hậu quả của nó áp đặt trên mảnh đất này trong gần bốn thập niên cho tới ngày nay,”
ông Nguyễn Quốc Khải viết vào ngày 17/12 vừa qua cho RFA trong một bài mang tên “Sự thật phũ phàng về Hiệp định Paris 1973.”

Việc Ban Việt ngữ Đài ACTD cho đăng bài này để chuẩn bị đánh dấu kỷ niệm 40 năm Hiệp định Hoà bình Paris 1973 là một điều đáng khen bởi trong quá khứ, đã có những lần Ban Việt ngữ quên không có bài đánh dấu những mốc lớn trong lịch sử đất nước. Như Hội-nghị Genève chia đôi đất nước (1954) hay thậm chí cả Hội nghị Hoà bình Paris 1973 (tên chính thức của Hiệp-định kết thúc hội nghị này là “Paris PEACE Accords of 1973”). Trong khi đó, chúng ta có cách xa Đài không tới một tiếng đồng hồ những nhân chứng như Ông Bùi Diễm, một nhà ngoại giao lão thành của Việt Nam, người đã có dự cả Hội nghị Genève 1954 lẫn Hoà đàm Ba lê năm 1968-1973, chưa kể đến những nhân chứng người Mỹ nữa.
Bài viết của ông Nguyễn Quốc Khải, như vậy, tôi mong chỉ là một bài viết đầu tiên về vấn đề này. Rất mong là Ban Việt ngữ cố gắng đi tìm hiểu sự thật qua những nhân chứng lịch sử có thật thay vì chỉ đi dựa vào một vài học giả mà chưa chắc đã nắm hết sự thật.


Những sai sót có thể trông thấy ngay trong bài của Ông Khải
Có lẽ vì viết vội nên bài của Ông Khải đã có một số sai sót rất dễ nhìn ra.
Thứ nhất, khi nói về Hiệp định Genève 1954 chia đôi đất nước, ông mở ngoặc và ghi “mà chính VNCH đã xé bỏ,” tôi thấy thật là tội nghiệp cho Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ lúc bấy giờ đại diện cho chính phủ “Quốc gia Việt-nam.”


Ngày 21/7/1954, ngay sau khi chính phủ Pháp của Thủ tướng Pierre Mendès-France thoả thuận được về nội dung của Hiệp định sau 12 giờ đêm ngày 20/7 (tức sang sáng sớm ngày 21/7), cả nước Mỹ qua lời tuyên bố của trưởng phái đoàn, tướng Bedell Smith, và Quốc gia Việt Nam qua lời tuyên bố của Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ đã tố cáo (“denounced”) sự chia đôi đất nước và không ký vào hiệp định “đình chiến” giữa Pháp và Việt Minh. Vậy thì làm sao có thể nói khơi khơi là “mà chính VNCH đã xé bỏ”?
Rồi cũng trong cùng một cảm-hứng, ông Nguyễn Quốc Khải viết:
Vào buổi trưa ngày 29-4-1973, Đài Phát Thanh Saigon truyền đi bản nhạc “I’m Dreaming of a White Christmas” qua dọng ca của Bing Crosby, báo hiệu cuộc di tản cuối cùng của Hoa Kỳ bắt đầu.”

Đây là một sự bịa đặt hoàn-toàn. Trước hết, ngày tháng của ông Khải sai: Ông cho chuyện này xảy ra hai năm trước khi mất miền Nam. Thứ nữa, Đài Phát Thanh Saigon, cho đến tận hôm nay (tức năm 2012, 37 năm sau), cũng chưa hề cho chơi bài “I’m Dreaming of a White Christmas” qua giọng (không phải “dọng”) hát Bing Crosby. Vậy thì ta thấy bài viết của ông Khải đáng tin đến đâu?
Đó là chưa kể đến những lỗi chính-tả không ít trong bài của ông Khải. Tỷ như “xác suất” (dịch chữ “probability”) mà ông Khải viết thành “sắc xuất,” thật là khó hiểu.
Tôi có thể lôi ra thêm những lỗi sơ đẳng khác nữa, nhưng đó không phải là mục đích bài viết của tôi.
Về phương pháp sử học


Khi viết sử, người ta phải biết dựa vào những dữ kiện có thật, không thể chỉ dựa vào cảm quan của mình. Bài của ông Khải, trái lại, thì đầy cảm quan. Như cách ông dịch chữ “decent interval” của Mỹ thành “khoảng cách chạy tội.”


Có thể dịch như ông nếu ta nghĩ, như tác giả Nguyễn Tiến Hưng, là “đồng-minh” Mỹ có ý “tháo chạy” ngay từ đầu. Đằng này, nếu ta nghiên cứu kỹ hai con người then chốt về phía Mỹ trong cuộc thảm bại ở Việt Nam, ta sẽ thấy hai người đó rất khác nhau. Ông Kissinger là một người Đức gốc Do thái, rất lo về an ninh vùng Trung đông, trong đó có nước Do thái, nên động cơ của ông là phải mau mau chấm dứt chiến tranh VN để còn đổ dồn chiến phí ở VN sang ủng hộ cho Do thái lúc bấy giờ đang lâm nguy (nhất là sau khi OPEC, tổ chức các quốc gia sản-xuất dầu lửa, thân các nước Ả-rập, quyết định tăng giá dầu lên gấp đôi vào tháng 10/1972 để làm khó Mỹ và Do-thái).
Trái lại, ông Nixon là tổng thống Mỹ. Ông không gốc Do thái nên cũng không có những động cơ tương tự như của ông Kissinger. Nếu đọc kỹ hồi ký của ông Nixon thì ta có thể tin rằng, tuy ông hiển nhiên rồi quan tâm đến vận mệnh chính trị của ông, ông cũng không có nhu cầu phải ở thêm một nhiệm kỳ nữa vì đến năm 1973, ông đã được bầu lại vào nhiệm kỳ 2 tức nhiệm kỳ cuối của ông rồi. Vì vậy nên ông có thể thành thật tin tưởng rằng “Việt-Nam-hoá” (“Vietnamization”) là con đường có thể cứu vãn được miền Nam. Hay ít nhất cũng mua được thời gian cho miền Nam đứng vững để có thể có dược một thời cơ khác.


Chính-sách của ông Nixon rất là bài bản. Để ra tranh cử với ông Hubert Humphrey sau khi Tổng-thống Lyndon B. Johnson khước từ, không nhận ra ứng cử cho nhiệm kỳ 1969-1973 để toàn tâm lo chuyện chấm dứt chiến-tranh VN, ông Nixon đã hứa là sẽ có kế hoạch để chấm dứt cuộc chiến ấy (hiểu là chấm dứt sự tham chiến của quân đội Mỹ ở chiến-trường VN, nghĩa là sẽ hết thương vong Mỹ tuy vẫn có thể ủng-hộ, yểm trợ miền Nam trong nhiều nghĩa). Có hiểu thế ta mới hiểu được chính sách của Mỹ (tức của ông Nixon) sau khi ông lên làm Tổng thống vào tháng 1/1969. 


Ông lập tức đưa ra chính sách “Việt-nam-hoá chiến-tranh ,” nghĩa là không đợi kết-quả của hoà đàm Paris mà tiến hành ngay với các vụ rút quân (= giữ lời hứa với cử-tri và dân-chúng Mỹ). Sau vụ gặp gỡ với ông Thiệu và ông Kỳ ở Midway, ông cho tăng cường quân viện cho VNCH. Ông khuyến khích Tổng thống Thiệu tiến hành với chương trình kinh tế và xã hội “Người Cày Có Ruộng.” Sau khi Quân lực VNCH tung quân sang Cao miên (1970) như vũ như bão, đánh bật hết các mật khu của CS ở bên đó, và với chiến dịch Phụng Hoàng ở nông thôn thành công lớn, ông đồng ý để cho Quân lực VNCH sang lâm trận ở Hạ Lào (tháng 2/1971). Tuy trận Hạ Lào đã không mang lại được kết quả mong muốn, ta cũng khám phá được ra sức mạnh của đối phương, nhất là về hoả lực phòng không và lực lượng chiến xa của họ. Nhờ vậy mà cuộc đọ sức sau đó, tuy Hà nội dốc hết lực lượng vào Nam trong mùa Hè đỏ lửa (tháng 4 đến tháng 9/1972) , 


Quân-lực VNCH đã can trường đánh bật được ra toàn-quân của họ ở ba địa-điểm tập-chú: Kontum, An Lộc (một trận đánh đã được gọi là Stalingrad của VN) và sau một thời gian lấy lại được Cổ thành Quảng trị (Quân sử Hà nội sau này đã phải gian lận và cho rằng Quân đội Nhân dân miền Bắc đã đánh chiếm lại được Cổ thành Quảng trị sau tháng 9 năm đó, trong khi chính Võ Nguyên Giáp đã cho là Lê Duẩn “ngu xuẩn” khi ra lệnh chiếm lại Cổ thành bằng mọi giá để cho quân chết như rạ, mất khoảng 1 đại đội mỗi đêm trong gần hai tháng trời).
Dựa vào những kết quả và chiến tích như vậy nên Mỹ mới dồn quân viện cho VNCH trong năm sau đó, chắc chắn là không phải với dụng ý là để sau này cúng (8 tỷ đô-la quân dụng) cho quân Bắc Việt. VNCH thua không phải vì Mỹ muốn phản bội, mà vì ông Nixon bị bó tay, do Quốc-hội Mỹ bó tay chính quyền của ông với luật “War Powers Act,” rồi cắt viện-trợ cho VNCH (như chính ông Khải cũng đã ghi lại: từ 2.2 tỉ Mỹ kim cho tài khóa 1973 [xuống] 1.1 tỉ Mỹ kim cho tài khóa 1974, và 700 triệu Mỹ kim cho tài khóa 1975).


Trong khi đó thì quân viện của Liên Xô và Trung Cộng cho Hà Nội thì tăng lên ngược chiều. Rồi ông bị mắc vào vụ Watergate, một chuyện hoàn toàn không may đối với VNCH (VNCH không có lỗi gì trong vụ này) vì nó buộc ông Nixon phải từ chức. Hiển nhiên, tới đó rồi thì bao nhiêu lời hứa hẹn của ông với ông Thiệu trở thành nước đổ xuống sông xuống biển.
Hiển nhiên, ông Thiệu cũng có lỗi trong một số quyết định vào những ngày chót của miền Nam. Mỹ thua ở Việt nam song cũng có người cho rằng vì Mỹ thua ở VN mà bộ mặt thật của Cộng sản mới lộ ra: chỉ trong một thời-gian rất ngắn, VNCS phải đương đầu với hai trận chiến với những đồng-minh của ngày hôm qua (Pol Pot và Trung-Cộng) để những vấn đề đó có vang vọng cho đến tận ngày hôm nay. Chưa kể là sau VN thì cũng cả khối CS Đông Âu và Liên Xô cũng sụp đổ theo.

Để kết
Rõ ràng là ông Nguyễn Quốc Khải đã không tôn trọng đến những nguyên tắc căn bản nhất của việc viết sử. Chưa kể ông còn lợi dụng một đề tài quan trọng của lịch sử VN để lái sang đả -kích cá-nhân tôi. Ông có thể không đồng ý với tôi (hay người khác) nhưng dùng những chữ nặng lời như “ý tưởng phục hồi Hiệp Định Paris là hoang tưởng nếu không muốn nói là bệnh hoạn” thì thật là không nên. Vì sao?
Vì trước nhất, ông giải thích sai hết cả về “giải-pháp VNCH” mà chúng tôi đã có dịp lên trình bầy ở trên Quốc hội Hoa kỳ từ tháng 6 năm 2010. Bài của chúng tôi viết về cuộc vận động này sau đó đã được nhiều báo đăng lại (trong đó có Website Việt Vùng Vịnh là chỗ dễ truy cập bài của tôi nhất, “Người Việt hải-ngoại và vấn-đề Biển Đông: Chúng ta đã góp được gì cho một giải-pháp?”). Sau đó, Khối 8406 trong nước cũng đã xin phép để đăng lại bài này trong phần tài-liệu của Khối. Cuối cùng, đến tạp chí “Quan hệ quốc tế hiện đại” của Trung quốc, số ra tháng 6/2011 cũng phải nhắc đến giải pháp này (Xem bài “Vận động chính trị của người Việt ở Mỹ và ảnh hưởng đối với tranh chấp Biển Đông”). Thiết tưởng ngần ấy chỗ, từ Quốc hội Hoa kỳ (kể cả Uỷ ban Ngoại giao Thượng viện) đến tình báo Trung Cộng, không ai xem đó là chuyện không tưởng cả thì ông Nguyễn Quốc Khải dựa vào đâu mà có thể xem đó là “hoang tưởng” hay “bệnh hoạn”?
Ta hãy cứ nghe ông Nguyễn Quốc Khải giải thích về Hiệp định Hoà bình Paris 1973. Ông viết: “Hiệp Định Paris đòi hỏi tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam, UBLĐLTVNCH sẽ phải ra tranh cử với Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (chính thức bị giải tán vào ngày 25-4-1976). Nhưng trước hết, UBLĐLTVNCH sẽ phải đưa hàng triệu người Bắc 75 về nguyên quán ngoại trừ 150,000 quân CSBV được Ông Kissinger và Ông Chu Ân Lai cho phép ở lại miền Nam từ 1973 đến nay.” Chỉ trong một đoạn này là đã có hai ba chỗ sai căn-bản:
“Hiệp định Paris đòi hỏi tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam,” đúng. Vậy Hà nội đã bao giờ để cho dân chúng miền Nam có tổng tuyển cử tự do ở miền Nam chưa?
Còn chuyện “Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam chính thức bị giải tán vào ngày 25-4-1976” bởi bàn tay của Hà Nội thì tại sao chuyện đó lại có thể là trách-nhiệm của VNCH được? Họ giết người của họ thì tội tình gì đến Hiệp-định Paris?
Vả lại, “giải-pháp VNCH” chủ-yếu dựa vào Điều 7b của Định-ước Quốc-tế về Hiệp-định Hoà-bình Paris” (“International Act on the Paris Peace Agreement”) trong khi bài của ông Khải không nhắc gì đến hiệp-ước quốc-tế có 12 quốc gia ký vào với sự chứng-kiến của ông Tổng-thư-ký Liên-hiệp-quốc hồi đó (tháng 3/1973). Vậy thì ta có thể coi bài của ông Nguyễn Quốc Khải là nghiêm chỉnh được không?
Đó là chưa kể ông Khải dựng đứng: “Nhưng trước hết, UBLĐLTVNCH sẽ phải đưa hàng triệu người Bắc 75 về nguyên quán.” Cần gì? Chỉ cần họ chứng minh được là trước năm 1975, chính họ hay cha mẹ họ đã có ở miền Nam là họ đủ điều kiện được đi bầu. Chứ 150.000 bộ-đội miền Bắc cũng không có lý do gì được xem là cử tri của miền Nam. Vì sao? Rất dễ hiểu, vì họ đã sẵn là cử tri của các địa phương ở miền Bắc.
© Nguyễn Ngọc Bích
© Đàn Chim Việt